Tục ngữ ca dao và câu đố Chăm, cái nhìn toàn cảnh – Inrasara

1.a. Theo số liệu thống kê ngày 1.4.1999, dân số Chăm ở Việt Nam hiện nay có: 152.312 người được phân bổ trong 10 tỉnh như sau: Ninh Thuận: 61.000 người – Bình Thuận: 29.312 người – An Giang: 30.000 người – Bình Định và Phú Yên: 20.000 người – Đồng Nai: 3.000 người – Tây Ninh: 3.000 người – Bình Phước và Bình Dương: 1.000 người – Tp. Hồ Chí Minh: 5.000 người. Cư dân Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận theo Bàlamôn và Hồi giáo bản địa hoá, trong khi người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh và Nam bộ theo tôn giáo Islam. Ngôn ngữ họ sử dụng thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Người Chăm đã có chữ viết từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Đây là thứ chữ vay mượn từ Nam Ấn, qua nhiều biến thể, trở thành akhar thrah và được lưu truyền đến ngày nay.

Thế nhưng, trong khi người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận vẫn còn sử dụng akhar thrah song song với chữ phổ thông – cả trong chương trình giáo dục cấp I lẫn cuộc sống hàng ngày – thì người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh và ở Nam bộ đã coi akhar thrah như một món đồ cổ xa lạ. Bên cạnh đó, trong lúc người Chăm Giữa đã hoàn toàn theo Hồi giáo thì đa phần người Chăm Đông (3) vẫn còn bảo lưu tôn giáo cổ truyền ( Cam Ahier, Cam Awal) với tất cả các sắc thái phong phú của dân tộc.

1.b. Sự khác biệt của môi trường địa lý cộng với sự khác biệt về phong tục tập quán, tôn giáo dẫn đến những khác biệt quan trọng về nhiều phương diện của sinh hoạt xã hội. Văn học như một bộ phận cấu trúc của xã hội, cũng phải chịu chung số phận đó. Cho nên, muốn có cái nhìn tổng thể về văn học Chăm, không thể nghiên cứu ở từng khu vực mà phải tiến hành đồng thời ở cả ba địa bàn cư trú của dân tộc này, trên cơ sở của một nền văn học truyền thống.








Đó là một điều khó khăn. Càng khó khăn hơn nữa khi đề tài nghiên cứu chỉ được quy định trong một phạm vi nhỏ hẹp là ca dao, đồng dao, tục ngữ, câu đố, một lãnh vực mà chỉ con người từng sống trong cộng đồng đó mới có thể thâm nhập được vì nó trực tiếp đụng chạm đến cuộc sống ngày thường, tiếng nói hàng ngày của cộng đồng.

Đó là trở ngại đầu tiên của người viết trong công tác sưu tầm vốn văn học dân gian từ đồng bào Chăm Nam bộ. Cho nên, đại bộ phận các đơn vị folklore Chăm được giới thiệu ở đây chỉ là những câu, những bài ở Chăm Đông được bổ sung một số câu sưu tầm được ở vùng Chăm Giữa. Bởi vì trong thực tế, khi bước vào lãnh vực này, người viết chỉ nhận được một nguồn tư liệu hiếm hoi từ những nhà nghiên cứu đi trước.

1.c. Từ một thế kỷ nay, người Chăm và văn hóa – văn minh Champa đã được các học giả trong và ngoài nước chú ý nghiên cứu. Một số lượng đáng kể các bài viết, các chuyên khảo hay các công trình có tính tổng hợp về văn minh Champa đã ra đời. Nhưng văn học Chăm nói chung đã không tìm được chỗ đứng xứng đáng với tầm vóc của nó. Tục ngữ, câu đố, ca dao… lại càng ít được chú ý hơn.

Dictionnaire Cam – Vietnamien – Francais do G. Moussay và một số cộng tác viên là người trí thức Chăm biên soạn năm 1971, trên 50 câu tục ngữ, thành ngữ vài câu ca dao được dẫn để minh họa cho từ là một vốn tư liệu quý hiếm đầu tiên được công bố.

Bộ sách Ngữ văn Chăm cấp I do Ban biên soạn sách chữ Chăm – Thuận Hải biên soạn (1982 – 1992) và chỉnh lý (1993 – 2000) cũng đã nêu được một số lượng đáng kể tục ngữ, ca dao Chăm.

Cuốn Văn hóa Chăm, NXB Khoa học xã hội (1991), với vài trang khiêm tốn dành cho văn học Chăm, tập thể tác giả cũng dẫn ra được vài mươi câu nữa. Nhưng hơn một nửa tục ngữ, ca dao được dẫn luận ở đây đã trùng hợp với hai nguồn tư liệu trên.

Trong khi đó bài viết Tục ngữ – Ca dao Chăm đăng trong tập Kỷ yếu Kinh tế – Văn hóa Chăm của viện đào tạo Mở rộng Thành Phố Hồ Chí Minh năm 1992 (4), Ca dao tiếng hát chữ tình của dân tộc Chăm, Tạp chí Văn học, số 9, 1994 và Tục ngữ Chăm. Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3, 1995 của Inrasara được coi như là một bước đi dò dẫm đầu tiên vào khu vực tế nhị này của văn học Chăm. Ngoài bốn nguồn trên, tư liệu điền dã của người viết thu nhập được từ năm 1975 đến nay là nguồn tài liệu chính để xây dựng cuốn sách nhỏ này.

1.d. Trong một thời gian dài đi sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian Chăm, có 3 điểm đáng chú ý là:

Vốn tục ngữ – ca dao Chăm và người sử dụng chúng ở bốn khu vực trong vùng Chăm Đông (Phan Rang, Tuy Phong, Phan Rí, Ma Lâm), càng vào trong càng giảm đi đáng kể.

Khả năng hiểu và sử dụng tục ngữ, thành ngữ ở tuổi trẻ Chăm biểu lộ sự yếu kém thấy rõ so với tuổi già.

Và ngay trong thế hệ các cụ lớn tuổi, trong thời gian gần đây, tục ngữ – ca dao ít được dùng xen kẽ trong lời nói như là một lối tô điểm cho ý tưởng của các cụ hơn.

Nói chung, tục ngữ – ca dao dần rơi rụng và đang bị lãng quên gây nên một sự khan hiếm về mặt tư liệu. Trong khi đó, sự phức tạp về mặt ngữ nghĩa của từ cổ vốn xuất hiện khá phổ biến trong thể loại folklore này cũng như những biến thể và cả phạm vi sử dụng hay ý nghĩa của nó giữa các vùng ở các khu vực khác nhau đã gây trở ngại không ít cho người sưu tầm.

Do đó, trong công tác sưu tầm, chúng tôi cố gắng ghi nhận những biến thể khác nhau và cả những lối nói hay lối hiểu khác nhau.

Ví dụ những lối nói khác nhau:

Những lối hiểu khác nhau:

1. – Cháy nơi người, nóng ấm đến ta Ghwơh pak urang, ghang pak drei, (hai nghĩa)

– Sang ở người, (làm) sáng nơi ta (nghĩa xấu)

2. Likei di bơng mưsuh, kamei di bơng mưnưk Phận của đàn ông là chiến đấu,
Phận của đàn bà là sinh nở

(Cũng có thể hiểu: Đàn ông ở vị thế chiến đấu, đàn bà ở vị thế sinh đẻ).

3. Bwơl karang, Yang pabblwak

– Dân thì tốn hao, Yang được được thêm
– Dân càng thưa, Yang càng thừa

(nghĩa là thần Yang ngày càng được tạo ra nhiều trong lúc dân tộc Chăm ngày càng ly tán, hao mất).

1.đ. Bên cạnh đó, để bổ khuyết cho những thiếu sót tư liệu trên, người viết cũng đã vận dụng những thành tựu của các nhà folklore học về phương pháp nghiên cứu, sưu tầm folklore của các dân tộc, trong đó phương pháp so sánh được áp dụng triệt để. Bởi vì, “trong những điều kiện lịch sử xã hội, sinh hoạt xã hội và lao động sản xuất như nhau, những phạm trù tư duy nào được phản ánh trong tục ngữ ở một dân tộc này tất yếu cũng có ở một dân tộc khác” (5).

Ở đây, chúng tôi chọn tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt làm chỗ dựa tư liệu gợi ý để khai thác tục ngữ, thành ngữ Chăm với nhiều nguyên nhân:

Trong quá khứ, hai vương quốc Champa và Đại Việt giáp giới nhau nên đã có nhiều cuộc giao lưu văn hóa, ngôn ngữ…

Trong hiện tại, hai dân tộc đang chung sống trong nhiều khu vực cộng cư nên chắc chắn có những vay mượn lẫn nhau ở nhiều lĩnh vực.

Vốn tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt đã được sưu tầm khá phong phú và đã có nhiều công trình chuyên khảo ra đời.

1.e. Tuy nhiên, một dân tộc đã có nhiều bề dày lịch sử văn học như dân tộc Chăm lại chỉ “trình làng” được gần 70 bài ca dao, đồng dao, hơn 1500 câu tục ngữ, thành ngữ, đó là con số hãy còn quá khiêm tốn!

Cho nên, khi công bố tác phẩm nhỏ này, người viết đinh ninh rằng vẫn còn nhiều câu tục ngữ, thành ngữ câu đố hay, đẹp như những viên ngọc quý trong dòng văn học dân gian Chăm chưa được nêu lên. Và đôi khi, những câu, những ý được dịch và giải thích ở đây có thể không thật tinh xác lắm với ý nghĩa đích thực mà nó mang chứa.

Vì thế, người viết chỉ mong bạn đọc coi đây như là một giới thiệu bước đầu và là một đóng góp khiêm tốn về một mảng nhỏ hẹp của nền văn học Chăm. Hy vọng nó sẽ giúp cho những ai quan tâm đến vấn đề này có thể tìm hiểu và sử dụng tục ngữ – thành ngữ Chăm khi cần thiết ở một mức độ nhất định.

I.2 Vấn đề thuật ngữ

Minh định ngữ nghĩa của thuật ngữ văn học Chăm và đối chiếu với thuật ngữ tiếng Việt là một điều khó khăn nhưng cần thiết. Khó khăn vì đây là một việc làm hoàn toàn mới mẻ trong khi tư liệu công cụ lại thiếu thốn. Cần thiết vì chẳng những nó giúp cho người đọc có căn bản tiếng phổ thông tìm được từ tiếng Chăm tương ứng mà còn giúp chúng ta một số tiêu chí để phân định các chủng loại văn học Chăm nói chung, và văn học dân gian Chăm nói riêng.

Ở đây có mấy thuật ngữ cần xác minh: Ca dao, đồng dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố.
Trong M. chỉ có ba thuật ngữ thuộc văn học dân gian được ghi nhận ở mục từ:
Panwơc yaw: tục ngữ; proverbes, dictum
Panwơc padit: ca dao; sentences populaires
Padit: ngụ ngôn; sentences, expression

2.a Panwơc yaw, dịch sát nghĩa là “lời” (người) “xưa”, “lời” (được truyền từ) “xa xưa”

yaw: xưa; autrefois (M.) trong từ mưng yaw mưng tik: từ xa xưa; depuis autrefois (M.). Ngoài ra:
adauh yaw: “hát xưa” được người Chăm dùng chỉ các loại hát dân gian nói chung.

Chúng tôi dịch Panwơc yaw là tục ngữ.

2.b Panwơc pađit nghĩa đen là “lời” hay “câu” (được dân gian) “đặt”, “định”. Pađit: fixer, décider (A.)

Như vậy, hai thuật ngữ này được chuyển dịch là tục ngữ, ca dao thì khá chính xác(6).
Riêng pađit, ngoài nghĩa được ghi trong (A.) như đã nêu, còn có nghĩa là “dẫn”, “dẫn chứng”. Người Chăm nói:

Trong câu nói, chúng tôi nhận thấy “pađit” được dùng như một động từ (verbe), hay một tính động từ (participe) như ở từ ghép panwơc pađit. Chúng tôi không thấy người Chăm dùng pađit như một danh từ (nom) trong mọi trạng huống. Cho nên pađit được dịch là châm ngôn thì thật chưa ổn.

Chúng ta có thể dịch ca dao là Kadha pađit.

Ngoài hai từ trên, chúng tôi muốn nêu thêm hai thuật ngữ khác không thấy ghi trong (A.) lẫn (M.) mặc dù chúng được người Chăm dùng rất phổ biến:

Mặc dù trong cụm từ pađit bauh kadha (dẫn tục ngữ, châm ngôn, …) bauh kadha được hiểu một cách tổng quát là châm ngôn, tục ngữ hay cách ngôn…, nhưng một cách tinh nghĩa, nó phải được hiểu như là ngữ có sẵn “một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày” (7) chúng tôi xếp nó tương ứng với thuật ngữ “thành ngữ” bên tiếng Việt.

Đó là ba thuật ngữ được dùng một cách thống nhất trong cuốn sách. Riêng kadha pađit (ca dao) cũng đã được dẫn cụ thể tránh việc sử dụng lẫn lộn giữa nó với hai từ panwơc yaw bauh kadha.

Chúng tôi chọn từ số lượng dân ca Chăm đã sưu tầm được đưa vào phần ca dao, đồng dao này những câu có vần điệu, đạt tới hình thức nghệ thuật tương đối trau chuốt và có nội dung thế sự hay trữ tình. Nội dung thế sự trong ca dao Chăm bao gồm những nhận định về sinh hoạt thường ngày, về cảnh trí thiên nhiên và về cuộc sống nói chung. Nhiều câu ca dao Chăm còn nói lên được những tình cảm trong quan hệ giữa người với người.

Về nhiều mặt, đồng dao và ca dao Chăm rất gần gũi với nhau. Sự khác biệt giữa hai thể loại trong văn học dân gian Chăm thể hiện chủ yếu ở “đối tượng phục vụ” tức là ở “vai trò chức năng” (8). Sự khác biệt giữa loại này chi phối các đặc điểm riêng, các chi tiết của đồng dao trong mối tương quan với ca dao Chăm.

Trong thực tế của Folklore Chăm, sự phân biệt giữa thể loại này và thể loại khác chỉ có tính cách tương đối.

Nhiều khi ở một bài sự ca, một bài về lịch sử, ta cũng bắt gặp những đoạn phản ánh tâm tình của con người (nhân vật trong bài sử ca hay tác giả của nó), tức là những đoạn ca dao trữ tình. Gặp trường hợp như vậy ta cũng có thể tách riêng những đoạn ấy xếp chung vào thể loại ca dao, nếu chung giúp ta hiểu rõ thêm một vài đặc trưng của ca dao Chăm, hiểu rõ thêm tâm tư của người Chăm.

Quả vậy, còn gì tha thiết hơn lời tâm tình của người con trai bỏ làng xóm ra đi đến một phương trời xa lạ để chiến đấu mà lòng không lúc nào không nghĩ tưởng đến bè bạn, họ hàng, quê hương:

Chàng trai ra đi trong đói khát:

Và khi ngoảnh nhìn lại, không gian ở quê hương chỉ toàn là một vùng mây mù, không thấy đâu là cửa nhà, đâu là làng xóm:

Tiếng hát trữ tình có khi là lời than của đôi trai gái yêu nhau bị cách ngăn bởi ranh giới tôn giáo khắc nghiệt:

Chúng ta biết rằng, trong suốt quá trình tồn tại của hai tôn giáo này, cuộc tình của những đôi tình nhân giữa Chăm – Bàni luôn xảy ra và lúc nào cũng kết thúc bằng một bi kịch. Do đó, một quan niệm như thế là lành mạnh cần được dưỡng nuôi. Thế nhưng, cũng có khi, chỉ bởi một tư duy lệch lạc, tiếng nói đã trở nên lạc điệu và vô tình đầu độc không khí trong sạch của tình làng xóm, nghĩa đồng bào. Vì ai cũng hiểu, con dông (ajah) – theo quan niệm tín ngưỡng dân gian Chăm Bàni – là loài bò sát xấu xa – trong lúc ấy người Chăm jat (Chăm Bàlamôn) chỉ coi thịt con vật này như là một món ăn như những món ăn thôn thường khác. Quan niệm sống khác nhau giữa hai dân tộc, hay ở đây, giữa hai tôn giáo là một chuyện bình thường. Nhưng khi có người (rất ít thôi) cất tiếng hát:

Và dĩ nhiên, một tiếng hát như vậy đã trở nên lạc lõng, dễ bị phản bác và chối bỏ bởi không thể tìm được tiếng vang đồng thanh đồng khí. Vì muốn có được sự đồng cảm, một lời nói ra phải chứa đựng nội dung nhân bản, luôn thể hiện tấm lòng vị tha. Có ai lại mở miệng thốt lên lời ca để tạo dựng lại thành trì căm thù cũ kĩ đã bị lịch sử phế bỏ!? Tiếng hát chỉ luôn luôn tìm đến cái lỗ tai biết nghe, luôn luôn nâng niu, dưỡng nuôi những tình cảm tốt đẹp nhất:

Đó là nét son nhân bản trong ca dao Chăm – những lời ngợi ca tình người, tình cha con, anh em, bè bạn, quan hệ sui gia ăn ở với nhau có tình có nghĩa, thủy chung như nhất:

Và nếu ca dao còn có những lời lẽ chê cười thì đó chỉ là cái bĩu môi với tấm lòng độ lượng:

Cũng giống như Folklore của nhiều dân tộc khác, ca dao thường quay trở lại với chủ đề muôn thuở của nó: tình yêu lứa đôi. Và ở đây, luôn luôn là những cuộc tình ngang trái.

Có lẽ vì hoàn cảnh xã hội đặc thù của dân tộc Chăm, mà khi đụng chạm đến vấn đề này, văn chương Chăm luôn bị bao trùm bởi một màu sắc ảm đạm của nỗi đau khổ. Trong cả ba bản trường ca trữ tình nổi tiếng của văn chương cổ điển Chăm (Ariya Bini – Cam, Ariya Cam – Bini, Ariya Xah Pakei), nỗi nhọc nhằn, sự chia li và nước mắt luôn có mặt. Và kết thúc mãi mãi là một kết thúc trong tuyệt vọng. Cho dù những sự hy sinh không bao giờ thiếu vắng:

Nếu các chàng trai Chăm Giữa than thở:

Thì ở miền Đông, người con trai Chăm cũng có những tiếng lòng tương tự. Đó là tiếng lòng của con người con trai đã thầm yêu trộm nhớ người con gái từ thuở còn rất trẻ (Chăm nói: thuở em còn nằm nôi), khi lớn tóc chấm ngang vai thì nàng lại rơi vào vòng tay người khác:

Và chàng tương tư nàng, ra ngẩn vào ngơ, lên rừng xuống đồng cho nguôi niềm mong nhớ:

Trong lúc ấy, ở một nơi nào đó, người con gái cũng đang nóng lòng chờ đợi:

Nỗi nhớ mong sao mà da diết! Một tâm hồn tràn đầy lãng mạn nhưng cũng hiện thực biết bao!

Adei brei pha crong: em cho đùi gối

Adei brei pha crong! Phải nói rõ hơn cái ý tưởng lãng mạn của nàng: chàng hãy về đi, em sẽ dành ngay cho chàng bắp đùi của em để chàng gối đầu lên, và em sẽ vuốt hoài vuốt mãi mái tóc chàng. Một hình ảnh bình dị nhưng nó đã diễn tả đầy đủ tất cả sức nặng của nỗi mong nhớ. Còn ngoài đời họ đã bị chia cách bởi không biết bao nhiêu điều nghiệt ngã khác mà họ không bao giờ hiểu được.

Cho nên đôi lúc, vì không còn giữ được bình tĩnh nữa, họ muốn cùng nhau ra đi, băng rừng băng núi, đối mặt với mọi sự hiểm nguy, và nếu có thể, cùng chết với nhau họ cũng mãn nguyện:

Điều làm cho người đọc ngạc nhiên không ít là hầu như không vang lên tiếng ca vui trong ca dao dân ca Chăm. Có lẽ chúng cũng đã được sáng tác vào thời xa xưa, nhưng khi thân phận Chăm đi vào khúc quanh bi đát thì những nét sáng ấy cũng bị mờ nhạt đi trên phông nền tối đen của lịch sử khắc nghiệt.

Và ngày nay, trong gần 100 đơn vị ca dao dân ca sưu tầm được, chỉ còn lưu lại những sầu ca trầm buồn. Những bài sầu ca ấy lại chỉ được phổ vào một thể thơ duy nhất gọi là ariya.

Ariya là thể lục bát gieo vần lưng (chữ thứ sáu của câu lục hiệp vần với chữ thứ tư của câu bát) và được gieo cả vần bằng lẫn vần trắc:

(Ariya Cam – Bini)

Nhưng khác với Akayet (sử thi) và các Ariya (trường ca) thuộc dòng văn chương bác học như: Dewa Mưno, Inra Patra, Glơng Anak … các trường ca trữ tình và nhất là ca dao Chăm, trong lối gieo vần, có lối tính âm khác hẳn. Chúng tôi tạm đặt tên cho nó là thể thơ ariya Chăm đếm âm tiết.

Ở thể ariya cổ điển, từ đa âm tiết, khi được mang sử dụng thì chỉ tính lượng trọng âm của từ, nghĩa là nó bị lược bớt một âm tiết:

Trong khi đó thể ariya hiện đại, mỗi âm tiết trong từ được là một âm của câu thơ trong phương thức hiệp vần:

Và đây là thể thơ duy nhất được sử dụng trong toàn bộ ca dao Chăm nên nó dễ cho chúng ta cảm giác đơn điệu, nhưng không phải là cái đơn điệu gây nhàm chán mà nó phải được coi như là một yếu tố cần thiết phù hợp với nội dung tinh thần bài thơ và với tâm hồn dân tộc Chăm.

Cả những hình ảnh thường được bắt gặp trong ca dao dân ca Chăm cũng khiến cho người nghe cảm giác buồn mênh mang, u uẩn. Đó là hình ảnh cành tre vắng bóng chim, thân phận của một con cua gẫy càng, cảnh rừng núi mịt mù đầy dọa nạt, những trận đòn roi, những tiếng sấm trưa, những cơn mưa chiều, những lời than vãn, những tiếng thở dài…

Những tiếng than vãn ấy, một khi đã phổ vào những làn điệu dân ca Chăm, đã tạo thành những tiếng hát khi trầm buồn, khi ai oán lâm li, khi thiết tha thơ mộng vang lên trong những đêm trăng sao và để lại trong chúng ta những dư âm không bao giờ muốn dứt.

Nếu muốn hiểu tâm trạng của một dân tộc trong một giai đoạn của lịch sử nào đó thì hãy xét đến nền âm nhạc của nó, thì ca dao là những lời thơ dân gian gắn bó chặt chẽ với dân ca, nên trong ý nghĩa đó, chúng ta cũng có thể nói ca dao Chăm chính là một phần hữu cơ của tâm hồn dân tộc Chăm.

Đồng dao Chăm là những bài thơ có vần điệu được trẻ con Chăm hát truyền khẩu cho nhau qua nhiều thế hệ. Đồng dao Chăm hẳn có một số lượng tương đối lớn, nhưng hôm nay trong tay người viết mới tập hợp được khoảng 30 bài và những bài này cũng được ghi lại qua ký ức của các cụ già Chăm; còn trẻ con Chăm bây giờ không còn biết đến đồng dao Chăm nữa.

Với một số lượng ít ỏi như thế, chắc chắn những dẫn chứng minh họa của bài viết sẽ không thể phong phú. Tuy nhiên chúng tôi vẫn không nề hà công việc ghi nhận để giới thiệu rộng rãi với độc giả. Bởi vì chúng tôi nghĩ, phải có một khởi đầu, để từ đó tạo tiền đề cho sự bổ cứu và hoàn chỉnh sau này. Vả chăng, có lẽ ta cũng không nên bỏ sót các viên ngọc quý dù số lượng của chúng đang còn rất khiêm tốn.

Về nội dung, vì các hiện tượng tự nhiên và xã hội được phản ánh trong đồng dao Chăm qua con mắt ngây thơ của trẻ con nên nhiều bài chỉ là những vần thơ mộc mạc, bình dị và chỉ để phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí của đám trẻ. Trong số này, bài Japlwai là tiêu biểu:

Đôi khi những bài hát trẻ con này cũng phản ánh được những nét sinh hoạt của xã hội Chăm. Ngoài những nếp sống sinh hoạt phong tục tập quán được diễn tả sắc nét trong bài Ciim dak – Ciim din, đồng dao Chăm còn mô tả được vài nét tiêu biểu cảnh sống của làng quê Chăm:

Và vì đồng dao Chăm trong một số trường hợp còn phản ánh những mảnh vụn của sinh hoạt xã hội nên nhờ đó chúng ta lại có thể thoáng thấy một số nét tiêu biểu trong một giai đoạn lịch sử nhất định ẩn chứa trong nó. Về khía cạnh này, bài đồng dao Jalauw Jalai là điển hình. Có thể nói Jalauw Jalai bao hàm được khá nhiều đặc điểm của một bài đồng dao. Bên cạnh việc phản ánh nếp sinh hoạt (làm ruộng, hái trái rừng, đánh bắt cá…), nó còn phác họa được một số nét về một giai đoạn lịch sử của dân tộc Chăm. Đó có thể là thời kỳ mà tộc người Chăm đang trong giai đoạn vượt qua cuộc sống du canh:

Để tìm đến sự ổn định của cuộc sống nông nghiệp của thời kỳ định canh định cư:

Để cũng có thể là thời mà dân Chăm phải vượt qua mọi trở ngại để lập quốc và dựng kinh đô đầu tiên:

Suốt bài đồng dao, từ nau bal (đi kinh đô) được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Mặc dù không ám chỉ kinh đô nào nhưng nó chứng tỏ tộc người Chăm đang phấn đấu gian khổ trong một cuộc hành trình dài để vượt qua giai đoạn bán khai đến một xã hội văn minh có tổ chức.

Bài hát Min Mang được truyền bá ở vùng Chăm Tây cũng đã nói lên đầy đủ mọi hãi hùng của dân tộc Chăm dưới thời Minh Mạng vào giữa thế kỷ thứ XIX:

Một số đồng dao Chăm cũng đã mô tả được tâm lý người đời. Và khi yếu tố này có mặt, nó luôn được biểu hiện với giọng trào phúng khá dí dỏm:

Những nét trào phúng biểu lộ rõ nhất và sâu sắc nhất ở bài Jhơng. Hình ảnh hai thầy trò bói tướng Kadit và Jhơng (Bướm và Vạc) vô tài bất tướng. Vì miếng cơm manh áo, đã phải xắn tay áo vào nghề, được đám trẻ con Chăm khắc họa thật đậm nét:

Tưởng được ăn, chẳng may ngón nghề bán nước bọt lừa dối người này bị chính người Raglai lột mặt nạ: talauk iku (tróc đuôi). Trẻ con Chăm hát bài này hẳn là để nhạo báng những bọn cơ hội: bbơng bu pađiak (ăn cháo nóng) dưới mọi hình thức. Cũng giống như trong bài đồng dao khác, đoạn kết thúc của bài hát này đưa ra một yếu tố bất ngờ. Bất ngờ ở chỗ ý đồ của thầy trò Kađit – Jhơng chẳng những bị khám phá, mà cả hai còn lâm vào một tình huống tạo cho người thấy, người nghe một cái cười sảng khoái. Ở đây chứa đựng cả cái nhìn phê phán sâu sắc, mặc dù chỉ qua lăng kính của trẻ con:

Đôi khi, thật bất ngờ, đồng dao Chăm còn ghi lại được dấu vết của một nhân sinh quan thuần phác nhưng ý nhị. Chúng ta hãy theo dõi bọn trẻ con đang đi tìm nguyên nhân của sự ốm rạc của thân Cò trong bài Cò ốm ( Kauk Liwang). Nhưng nguyên nhân nối tiếp nhau, nguyên nhân này dẫn tới nguyên nhân khác để cuối cùng không một nguyên nhân nào đứng vững cả. Hay nói cách khác, chỉ còn lại một nguyên động lực duy nhất: Ông trời. Cho nên, hành động (nguyên nhân) của các hữu thể (con tôm, ngọn cỏ, con trâu, cái cọc..) được nêu lên trong bài ca để xuất phát từ một yếu tố tất định: Tạo hóa. Do đó chúng đã không phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình. Thật ngây ngô và đáng yêu biết bao! Ngày nay ta có thể phê phán quan điểm định mệnh này. Ta cũng có thể cho rằng đó là cách nhìn thiếu khoa học về quan hệ nhân quả. Và chúng ta cũng không vội gán cho nó một ý nghĩa triết lý cao siêu nào đó. Tuy nhiên, chúng tôi thiển nghĩ phải chăng các bài đồng dao loại này cũng có phần nói lên một quan niệm, một kiểu lý giải sự vật thường có ở người Chăm mà người lớn muốn truyền dạy cho trẻ thơ?

Về nghệ thuật, lối gieo vần ở đồng dao Chăm phần nhiều đều sử dụng vần liền:

Rồi mới đến vần nối:

Có đôi bài, cả hai lối gieo vần được áp dụng có kết hợp cả vần lưng:

Mưnuk cei sa yuw
Katruw cei sa bai
Jah glai ngap puh
Puh cei pala ritak
Ritak cei wei wei.

Và chỉ có một trường hợp duy nhất phép đối được ứng dụng, như trong bài Kwik – Kwak chúng ta trích dẫn ở trên.

Cái đặc sắc của đồng dao Chăm còn thể hiện rõ nét cách sử dụng từ ngữ giản dị hay việc vận dụng những của hình ảnh gần gũi cuộc sống thường ngày vào trong sáng tác. Từ những hiện tượng trong thiên nhiên: con chim xanh, cá lòng tong, mặt trăng, trái nhãn, con chó… đến những hình ảnh sinh hoạt xã hội: làm rẫy, bắt cá, lội nước, gặt lúa, đi bói… và tên của các “nhân vật” trong đồng dao cũng được cụ thể hóa và đơn giản hóa một cách rất ngây ngô nhưng không kém phần thi vị. Có khi trẻ em dùng tên trái cây, con thú để đặt tên cho nhân vật của mình: Japlwai (Bí), Jhơng (Vạc), Kađit (Bướm), Jalauw (Vẹt); có khi chúng dùng sự vật hay cái dị biệt của cơ thể đối tượng để đặt tên: Jamơng (Cọc), Jabbaih (Sứt), và đôi khi chúng chỉ lấy một âm thanh vô nghĩa nhưng không phải vì thế mà nó không có tác dụng biểu đạt một ý nghĩa nhất định. Kwik – Kwak là tên những nhân vật thuộc nhóm này. Chúng không phải là tên riêng của một ai nhưng có thể là tên tất cả của mọi người – một điển hình của loại người hay so đo và đố kị. Đồng dao Chăm sử dụng ngôn từ mang tính biểu tượng cao là vậy.

Chúng ta cũng cần xét qua những nét tiêu biểu trưng đặc biệt của vài hình ảnh được dùng trong bài Jhơng để nhận thức cái rõ hơn cái độc đáo của nghệ thuật này:

  • Gauk kơng (nồi đồng): thầy trò tính truyện sinh kế.
  • Mưnhi kraih krauh (kêu róc rách): thầy trò đang lẩm bẩm bói toán.
  • Talauk iku (tróc đuôi): công việc bị khám phá.
  • Bbơng bu pađiak (ăn cháo nóng): bọn cơ hội – cái nhìn mang tính phê phán.
  • Kaik gơp dalam ging (cắn nhau dưới bếp): thầy trò đã đổ lỗi cho nhau, cãi vả nhau.

Đây cả một câu chuyện thú vị với một nghệ thuật kể chuyện độc đáo. Cái hay của lời nói, của câu hát dân gian là vậy – súc tích, đơn giản nhưng sâu sắc.

I.5 PANWƠC YAW – TỤC NGỮ

3.a. Xét về nguồn gốc, tục ngữ là câu nói cửa miệng của quần chúng nhân dân, xuất hiện từ lâu đời và được lưu truyền đến ngày nay. Tuy thế, cũng có một số câu tục ngữ Chăm có nguồn gốc từ văn học thành văn. Những câu thơ sâu sắc trong các thi phẩm cổ như: Ariya Glơng Anak, Pauh Catwai, Dauh Tơy lơy…

đều đã tục ngữ hóa và được quần chúng Chăm sử dụng một cách rộng rãi.

Mặc dù đại bộ phận tục ngữ Chăm có xuất xứ từ xa xưa, nhưng không phải vì thế mà khả năng sáng tạo tục ngữ của quần chúng Chăm không còn tồn tại nữa ở thời cận đại và hiện đại. Nếu ở thời thực dân – phong kiến, người Chăm có câu:

Thì dưới chế độ cũ, chúng ta cũng thấy xuất hiện nhiều câu tục ngữ tiêu biểu:

Và hẳn nhiên, trong những thập kỷ gần đây, khi văn hóa Chăm đã hòa nhập vào nền văn hóa chung của Việt Nam; và nhất là khi đã có sự chung sống hài hòa giữa hai dân tộc Kinh – Chăm thì sự vay mượn tục ngữ từ người Kinh của người Chăm (vay mượn nguyên văn hay chuyển dịch) là một điều tất yếu. Câu:

Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.

Có công mài sắt, có ngày nên kim.
được chuyển thành:
Kahria bruk pak khaul ita, ywa Debita mưng jiơng

Hu prưn thah pasei, hu harei jiơng jarum

Là hai ví dụ điển hình.

3.b. Về nội dung

Có thể nói, tục ngữ Chăm là cả một túi khôn của dân tộc Chăm được cô đúc lại, cả một kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh, những bài học về tâm lý và giáo dục. Bên cạnh đó, tục ngữ Chăm còn phản ánh được thực tại xã hội, lịch sử Chăm, đồng thời nói lên được phần nào mơ ước chung của cả một dân tộc.

Ngoài những quan niệm về thế giới, về nhân sinh:

Về tương quan giữa người với người:

Về luân lý đạo đức:

Mưnwix sa paran yuw adei ai sa tian
Con dân một nước như anh em ruột.
Panwơc siam ka hu phwơl dhar, panwơc kak kan dom gauk janưk
Lời ngay mới nên đạo, lời ngược ngạo dễ tạo hận thù.

Tục ngữ Chăm còn diễn tả khá sắc nét tâm lý người đời:

Lipa xara yamưn, trei patei plak
Đói thì muối ngọt, no thì chuối chát.
Rimaung gamrơm rimaung bbơng asuw,
rimaung padơp kakuw rimaung bblơng mưnwix
Cọp gầm to là cọp ăn chó, cọp giấu vuốt mới là cọp vỗ người.

Và một phần nào đó phản ánh được thực trạng lịch sử xã hội:

Hay khắc họa những nét sinh hoạt ở địa phương Chăm:

Kate di bingun, Cabbur di klơm
Lễ Kate vào thượng tuần, lễ Chabun vào hạ tuần, Palei Caklaing jih dalah, gauk glah palei Hamu Crauk
Mỹ nghiệp thổ cẩm, Vĩnh Thuận đồ gốm.(12)

Bên cạnh đó, quần chúng nhân dân Chăm còn sử dụng tục ngữ như là một thứ vũ khí để phê phán, đả kích những thói hư tật xấu của người đời:

Ai xuống nước nấy ướt.Dụ chú cắt tranh Thei trun ia thei pathah

Palwơ cei ywak ralauh,
tak sang blauh cauh tauk cei palau

Khi mái đã thành, đá đít chú đi.

Ngoài ra, còn có một bộ phận tục ngữ Chăm diễn tả kiến thức về tự nhiên cũng như kinh nghiệm về lao động sản xuất:

Ếch nghiến răng, không mưa núi cũng mưa đồng. Kiep garaw tauk, o hajan ngauk jang hajan tanran

Ngap hamu jwai klak puh,
Kahria bihaluh nhjơp twei bilan
Làm ruộng chớ bỏ rẫy hoang, tính toán cho thông theo đúng mùa.

Như vậy, tục ngữ Chăm như là một tấm gương phản chiếu toàn bộ sinh hoạt xã hội Chăm, một kho tàng quý giá thâu tóm mọi tri kiến về nhiều lãnh vực của xã hội. Nhờ vậy mà những con người lao động bình dân có thể rút ra từ trong đó những bài học kinh nghiệm hết sức thiết thực giúp cho họ nhận thức, hành xử và lao động.

3.c. Về nghệ thuật

Để cho mọi người dễ nhớ và dễ áp dụng, tục ngữ Chăm được thể hiện với những ngôn từ và nghệ thuật khá đặc sắc.

Nhìn chung, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Người Chăm sử dụng những hình ảnh hay hiện tượng khá gần gũi và cụ thể để nói lên những ý niệm trừu tượng và mang tính khái quát lớn hơn.

Với nghệ thuật sử dụng ngôn từ khá tinh vi cộng thêm lối so sánh độc đáo, nhiều câu tục ngữ khi được dẫn ra đã gây cho người nghe một ấn tượng rất mạnh:

Chân đạp cứt ai nỡ chặt bỏ cái chân. Takai jwak aih halei takai kauh klak

Siam binai o buh tamư gauk hu
Đẹp người cũng không bỏ vào nồi mà xơi được.

Ngoài ra, tục ngữ Chăm luôn tuân thủ luật đối chữ, đối ý khá chuẩn xác:

Và vì tục ngữ thường được sử dụng thêm vào lời nói để đưa đẩy câu chuyện, nên nó cũng giàu nhạc tính:

Mùa gặt chú bác xum vầy, mùa cày thấy đầy rắn rết.Ăn cơm với mẹ chẳng no, Bilan mưnik bboh mik bboh wa,
bilan liwa bboh ula bboh adieng

Hwak saung amaik o trei
hwak saung kamei lauk drei lauk jan

ăn cơm với vợ thì ăn thả cửa.

Tuyệt đại đa số tục ngữ Chăm đều có vần, và lối gieo vần ở đây cũng rất đa dạng. Từ vần liền ở một vế:

Đến vần liền nối liền hai vế với nhau:

Và từ vần cách một chữ:

Ăn lúc còn răng, cưới vợ lấy chồng lúc tuổi thanh xuân. Bbơng katuw tagei khing kamei katuw dơm

Ajaung halwơk kaywa thah, mưnwix hadah kaywa mưgru
Rìu có mài mới sắc, người có học mới khôn.

Đến vần cách hai hay ba chữ: khi gieo vần theo kiểu này tục ngữ Chăm thường mang hình thức của một câu lục bát biến thể:

Thà mất đôi trâu còn hơn mất mặt. Chẳng ai gây cho mình cả Dak lihik kabaw yuw oh dak di mưluw bbauk

Thei ngap di drei o hai,
tamuh di hatai drei ngap di drei

Tâm sinh sự, mình tự hại mình.

Và cả vần lưng hiệp với vần cuối cũng được sử dụng kết hợp một cách nhuần nhị:

Cãi (chống) thầy thì sau này thành khỉ thành vượn. Gang di gru jiơng kra jiơng hawa

Birak jak mai, mưraung graung mai
Từ miền ngoài dẫn lại, từ miền trong rủ tới.

Tuy nhiên ta cũng bắt gặp một số tục ngữ Chăm không cần phải dựa vào một thủ thuật văn chương nào hay một phép tu từ nào mà chỉ theo lối chỉ thẳng, nói thẳng, đập mạnh vào trái tim khối óc của người nghe.

Những câu tục ngữ như:

Đẹp người cũng không bỏ vào nồi mà xơi được. Siam binai o buh tamư gauk hu

Anưk mưnwix mưtai diip pak bauh panwơc
Con người sống chết đều bởi lời ăn tiếng nói.

Đều có thể liệt vào loại này.

I.6. PANWƠC PAĐAU – CÂU ĐỐ

Cùng có cấu trúc như tục ngữ, cùng xuất hiện và tồn tại song song với tục ngữ, nhưng câu đố Chăm đã bị mai một đi rất nhiều và rất nhanh. Khoảng 80 đơn vị được giới thiệu ở đây cũng đủ nói lên tình trạng thê thảm này. Bởi sự không cân đối của câu đố so với tục ngữ, thành ngữ Chăm, nên chúng tôi muốn coi đây như là phần phụ lục cần thiết cho tập sách nhỏ này. Nhưng dù sao cũng cần có sự phân tích sơ bộ cấu trúc của nó.

Về nội dung, đối tượng đề cập của câu đố Chăm đều xoay xung quanh những sự vật cụ thể, gần gũi với quần chúng bình dân. Những công cụ sản xuất như cây cuốc, cái cày… hay những vật dụng được dùng trong sinh hoạt hàng ngày như: chiếc đũa, cây kim, cái nồi…; những dụng cụ dùng trong sinh hoạt tinh thần: trống baranưng, cây nến… và cả những hiện tượng tự nhiên xung quanh: cái gai, cái nấm, mặt trăng, biển, trái dưa, cây chuối, con dê, con tôm… cũng có mặt trong câu đố. Câu đố Chăm còn sử dụng đến cả những sinh hoạt xã hội, những hoạt động con người như: cán bông, hỉ mũi, ăn cơm… để làm đối tượng đố; và đôi khi câu đố còn đề cập đến cả những nhân vật lịch sử hay nhân vật trong truyện cổ tích, truyền thuyết: Po Bin Swơr, Po Rome, Po Klaung Girai…

Nhưng khác với tục ngữ, câu đố diễn tả sự vật hay con người bằng cách nói trại đi, bắt đối tượng được hỏi phải vận dụng óc suy luận, trí phán đoán để lý giải nó. Nét đặc trưng luôn là điểm cốt tủy của vấn đề. Nhưng đôi lúc “chất keo” kết dính giữa câu đố và vật đố lại không đủ độ dính cần thiết nên có vài trường hợp trùng lặp xảy ra. Như chỉ có một câu đố mà có hai hay ba cách giải thích khác nhau. Câu:

Talei nau kabaw dauk
Dây đi, trâu ở lại.

Sự vật được đem ra đố ở đây có thể là cây dưa, dây bí… và tất cả loại dây có trái khác, người ta có thể trả lời thế nào cũng được, vì không có sự khác biệt đáng kể nào ở những nét đặc trưng giữa chúng ứng với sự vật mà câu đố này muốn ám chỉ.

Hiện tượng ngược lại cũng có thể xảy ra. Như chỉ một vật đố mà lại có nhiều câu đố khác nhau. Ví dụ “mặt trăng” có hai câu đố:

Không ai khêu mà sáng. O hu kơh blauh hadah

Ala o thei patauk, ngauk o thei twơr
Phía dưới chẳng ai chống, bên trên chẳng ai treo.

Nhưng đấy chỉ là những trường hợp rất hãn hữu. Nhìn chung, câu đố Chăm luôn miêu tả được những nét tiêu biểu nhất của sự vật để người được hỏi không thể nhầm lẫn, và từ đó có thể lý giải một cách xác đáng.

Nét đặc trưng ở đây là “râu”, sự vật được nhấn mạnh là “đàn bà”. Đàn bà có râu, một hiện tượng lạ ít khi thấy. Đây là loại câu đố đối ngịch mà vật được nói đến đã tỏ rõ nét đặc trưng của nó. Người được hỏi chỉ cần liên tưởng và tìm những nét tương đồng giữa hai sự vật để có thể tìm ra câu trả lời thích hợp.

Còn loại câu đố đối nghịch mà đối tượng của nó không được nêu bật nét đặc trưng hay chỉ nêu một cách gián tiếp thì ta phải dụng công đến hai lần, nghĩa là phải đi qua hai lần liên tưởng. Câu:

Caik ngauk pha hia, palaik trun ala giđơng
Đặt lên đùi thì khóc, để xuống đất lại nín.
(trống baranưng)

Trước tiên, câu đố buộc người được hỏi liên tưởng đến “trẻ thơ”, tiếp theo là liên tưởng đến cách vỗ trống baranưng, và cuối cùng mới tìm lời giải thích.

Có những câu đố trong đó chỉ nêu lên những nét tiêu biểu của sự vật tĩnh:

Sa bbaik gơng, sa tapei gak, ngap jiơng sang
Một cái cột, một tấm tranh, làm thành nhà. (cây nấm)
O hu bbau blauh nhjwơh
Không bào mà nhẵn. (mặt trời)
Tathaiy o bak, pađiak o thu
Mưa dầm không đầy, nắng hạn chẳng khô. (biển)

Có loại câu đố trình bày sự vật trong trạng thái động của nó:

Dwa bbaik gai jhaw tiap kabaw tamư wal
Hai cây sào đuổi trâu vào chuồng. (ăn cơm với đôi đũa)
Hwak blauh trun mưnei
Ăn xong xuống tắm. (cái chén)
Nhuk ia hwa prwơc
Lặn nước lê bộ lòng. (kim may)

Câu đố Chăm còn dùng các hình ảnh của mối quan hệ xã hội để làm tư liệu đố:

Hoặc dùng những bộ phận trong cơ thể của con người làm vật đố:

Hay đôi khi người ta còn tìm thấy câu đố Chăm có dạng đố bằng cách chơi chữ:

Dwa bblang, kluw bauh
Hai sân, ba trái.

(các địa danh Bblang Kathaih, Bblang Kacak, Bauh Dana, Bauh Bini, Bauh Dơng là các làng Chăm thuộc huyện Ninh Phước – Ninh Thuận)

Và vì câu đố đề cập đến mọi khía cạnh của cuộc sống nên cả yếu tố tục cũng được vận dụng đưa vào. Thế nhưng, khi một câu đố Chăm yếu tố tục, ngoài tác dụng gây cười (như câu đố về động tác giã trầu chẳng hạn), nó còn có tác dụng phê phán. Một ông quan huyện hống hách thường cưỡi ngựa cái (để cho nó còn đẻ!) đi ngoài đường bị mang ra làm trò cười với câu đố:

Dwa gah akauk, nơm gah takai, klai krưh ka-ing, ting di tauk
Hai cái đầu, sáu cái cẳng, c. giữa lưng, l. sau đít.

Hình ảnh thanh niên nông thôn be bét rượu chè cũng trở thành đề tài được khai thác sâu sắc với câu đố:

Sa drei kabaw mưtai, rituh urang mưtai twei
Một con trâu chết, trăm kẻ chết theo.

Về nghệ thuật, câu đố Chăm cũng có một lối miêu tả ngắn gọn và cô đọng như tục ngữ. Và cũng như tục ngữ Chăm, nó đụng chạm đến rất nhiều khía cạnh của cuộc sống nhân dân Chăm. Câu đố được người Chăm vận dụng ở khá nhiều hoàn cảnh và tình huống khác nhau. Họ có thể dùng câu đố để xét óc phán đoán của trẻ con. Người con gái Chăm cũng có thể thử trí thông minh, tài suy luận của các chàng trai Chăm trong các dịp họp mặt đông đảo bằng cách đưa ra những câu đố thích hợp. Và câu đố nhiều khi được kết hợp với dân nhạc để tạo thành những bài hát đố (adauh pađau) rất đặc sắc.

Tóm lại, tục ngữ – ca dao Chăm là tiếng nói chân chất nhưng không kém phần sâu sắc của quần chúng nhân dân Chăm trong suốt quá trình hành lịch của dân tộc được cô đúc lại. Nếu ca dao – dân ca là tiếng hát của con tim mơ mộng thì tục ngữ – câu đố là tiếng nói của lý trí thực tiễn. Tiếng nói ấy đã bao quát được cả một vốn phong phú kinh nghiệm sống và chiến đấu, lao động và học hỏi đồng thời một phần nào khái quát được những nét đặc thù trong sinh hoạt của cộng đồng xã hội Chăm. Tiếng nói ấy, qua một thời gian dài, đã làm giàu cho ngôn ngữ Chăm và tô điểm cho văn chương Chăm không phải là ít. Bên cạnh đó, nó còn đóng góp một phần quan trọng trong việc làm trong sáng lý trí chúng ta và nhất là làm cho đời sống tình cảm của chúng ta ngày càng thêm phong phú và tốt đẹp.

Nhưng tiếng nói này ngày càng bị rơi rụng theo thời gian, và hôm nay đang trở thành một thứ của hiếm. Ngày nay, các cụ Chăm không còn thường dẫn tục ngữ, thành ngữ (pađit bauh kadha) để răn dạy con cái hoặc điểm tô cho lời nói hay ý tưởng mình như thời xưa nữa. Và trong thế hệ trẻ thời đại, nhạc rap, nhạc pop… đã lấn át hẳn những lời dân ca dân dã mang ý nghĩa giáo dục, răn dạy đạo lý làm người.

Đáng tiếc lắm thay!

______________

Chú thích:

  1. Akhar thrah: chữ viết thông dụng của dân tộc Chăm, thường được sử dụng ghi các văn bản chép tay.
  2. Xem Phụ lục: Bảng chuyển tự Latin tiếng Chăm được dùng trong sách.
  3. Chăm Đông gồm đồng bào Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, Chăm Giữa người Chăm sống ở Hồ Chí Minh và Tây Nam Bộ, và Chăm Tây là tất cả người Chăm ở Campuchia. Theo Bùi Khánh Thế, Ngữ pháp tiếng Chăm, NXB Giáo dục, Hà Nội 1996, tr. 4.
  4. Bài viết của Inrasara khoảng 10 trang đánh máy, nhưng rất tiếc, khi tóm tắt (không qua ý kiến người viết) và đem in, bộ phận biên tập đã phạm nhiều sai lầm về chuyên môn.
  5. Lê Đình Bích, Tục ngữ Nga – Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986, tr. 92.
  6. 6. Ca dao được dùng theo nghĩa “thơ dân gian truyền thống” và “không đồng nghĩa với dân ca” Lê Bá Hán, … Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1992, tr. 22.
  7. Novicova, sáng tác thơ ca dân gian Nga, t.l, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, tr. 240.
  8. Khi xưa Cam gok, Bini ralauh là hai từ để gọi miệt thị nhau giữa người Chăm thuộc hai dòng tín ngưỡng này. May mắn sao, ngày hôm nay, chúng ta không còn nghe thấy hai tiếng này được phát ra từ môi miệng thế hệ trẻ nữa!
  9. Kate là lễ tưởng niệm các vua chúa thuộc dương, được tổ chức vào đầu tháng Bảy Chăm lịch. Cabbur: lễ tưởng niệm các vua chúa thuộc âm, được tổ chức vào đầu giữa tháng Chín Chăm lịch.
  10. Mỹ Nghiệp, Vĩnh Thuận là làng Chăm ở Ninh Thuận còn giữ được nghề truyền thống của dân tộc.
  11. Baranưng: Loại trống một mặt của người Chăm, nghệ nhân sử dụng là Ong Mưdwơn.


Bạn đang xem bài viết Tục ngữ ca dao và câu đố Chăm, cái nhìn toàn cảnh – Inrasara tại chuyên mục [ Danh ngôn ] trên website Vhnshop.com. Hãy chia sẻ nếu bài viết này hữu ích cho mọi người.