Lời Phật Dạy Và Khoa Học

1)- Vi sinh vật:

Khi Phật
trông thấy các Tỳ-kheo dùng gáo múc nước sạch trong chum (lu, vại, khạp đựng
nước) để uống, Ngài dạy: “Các ông phải
niệm chú trước khi uống nước ấy, vì trong nước đó có nhiều sinh vật rất nhỏ bé”
.
Rồi Ngài dạy các Tỳ-kheo đọc câu chú: “Án chạ tất ba ra ma ni tóa ha, Án chạ tất ba
ra ma ni tóa ha, Án chạ tất ba ra ma ni tóa ha
“.(Có sách lại ghi là Ngài dạy: “Mỗi lần
uống nước đều nên đọc câu chú ấy ba lần để chúng-sanh nhỏ bé ấy được siêu
thoát”.

Ngày ấy,
cách nay trên 2500 năm, không ai thấy hoặc biết được trong nước có sinh vật nhỏ
bé. Cho tới khi khoa học phát minh ra kính hiển vi cách nay hơn ba trăm năm. Họ
lấy một giọt nước trong vắt ra soi bằng kính hiển vi, người ta thấy rằng trong
nước ấy có sinh vật bé nhỏ mà mắt thường không thấy được, và mới tin rằng trong
nước có sinh vật nhỏ bé.








2)- Âm thanh.

Có một lần
Phật bảo các Tỳ-kheo: “Âm thanh của ta,
các ông, và của mọi người không mất, nó sẽ còn mãi mãi”.

Ngày nay
chúng ta đã giữ được âm thanh, có đài phát thanh, truyền hình, vô tuyến điện
thoại, băng, đĩa, CD… Ngoài ra, các nhà khoa học còn cho biết họ đã nhận được
nhiều tín hiệu từ rất xa ngoài hành tinh của chúng ta, mặc dù chưa tín hiệu nào
được xác nhận chính thức…

II )- Hiện bóng, ngửi
mùi
1)- Hiện bóng:

Quyển Đạo
Phật và Khoa Học, tác giả Minh-Giác đã khéo nhìn thấy chỗ Kinh nói, trang 149
viết:

– Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, trang 24-27 kể rằng khi
đức Phật cho bà Vi-Đề-Hy, chánh hậu của vua Tần-Bà Sa-La coi cảnh cõi nước chư
Phật hiện bóng rõ nơi tòa quang minh, rất rõ ràng và nghiêm đẹp… Như vậy chữ
hiện bóng tức là hình ảnh hiện lên, và tòa quang minh tức là màn ảnh; Đức Phật
bảo bà chọn nơi ưa thích, thì rõ ràng là một màn ảnh của băng video ( hay DVD)
v.v…

– Trong Kinh Duy-Ma-Cật, khi Phật bảo Ngài Duy-Ma-Cật
thị hiện cõi nước Diệu-Hỷ có Vô-Động Như-Lai, các Bồ-Tát, và đại chúng nước ấy
cho đại chúng xem. Ngài Duy-Ma-Cật liền lấy tay phải trấn cõi nước Diệu-Hỉ để
vào cõi Ta-Bà, cõi Ta-Bà không thấy chật hẹp, vẫn y nguyên như trước. Qúy vị
thấy thần thông của chư Phật và đại Bồ-Tát Duy-Ma-Cật rõ ràng là những máy
truyền hình. Thí dụ ta mở máy truyền hình để xem trận đấu quốc tế có hàng nghìn
người coi trận đấu trên một sân banh rộng lớn, sân banh rộng lớn và hàng nghìn
người coi đâu có chèn ép gì mình, dẫu cho cả nước Mỹ hay cả thế giới chiếu lên
màn ảnh đó, những quang cảnh to lớn đem bỏ vào phòng mình đâu có chật?

2)- Ngửi mùi:

Kinh Pháp-Hoa Phật dạy: “Người thụ trì Kinh này trọn được tám trăm công đức sẽ ngửi được trăm
nghìn thứ mùi trong Tam Thiên Đại Thiện thế giới”.

– Về Khoa học:

Quyển Đạo
Phật và Khoa Học, trang 72 ghi: “Ngày nay các nhà khoa học đã chế được máy ngửi
mười nghìn thứ mùi khác nhau”.

Đức Phật dạy:

“Nếu lấy một vật chia chẻ mãi tới còn bằng
đầu sợi tóc, gọi là mao trần. Lấy hạt bụi bằng mao trần này chia chẻ còn bằng
hạt bụi bay trong hư không, gọi là khích du trần. Hạt bụi bay lại chia chẻ nữa
thành vi trần nhỏ, rồi hạt vi trần nhỏ này lại chia ra nữa cho tới khi không
còn chia được nữa, gọi là cực vi trần, lân hư trần
” (Kinh Lăng-Nghiêm của
Hòa-Thượng Thích-Duy-Lực dịch, trang 103).

Ngài dạy
tiếp: “Không bao giờ tìm cầu được thực
tại cuối cùng của vật, vì những vật mà ta thấy chỉ là tổng tướng ảnh tượng được
kết hợp bởi vô vàn vô số những cực vi, nó xuất hiện trong biên giới giữa vật và
tâm, nó hiện diện khắp nơi; hư không, không phải là không có gì, mà trong đó có
đủ loại quang minh cùng các loại chúng-sanh cư ngụ”
(Đạo Phật và Khoa Học,
trang 14, 20, 21).

– Về Khoa học:

Các nhà khoa học (Đạo Phật và Khoa Học,
trang 13) đã tìm ra từ phân tử tới nguyên tử mà Neil Bohr (1885-1950), Vật lý
gia Đan-Mạch là một trong những khuôn mặt sáng giá trong việc đề xướng thuyết
nguyên-tử. Nguyên tử trong đó có Dương điện tử (Proton), Trung hoà tử
(Neutron), và Âm điện tử (Electron) chạy chung quanh.

Nhưng nhà
khoa học Muray Gellman cho rằng Dương điện tử và Âm điện tử còn có hạt vi phân
gọi là Quark hay là cực vi, hạt ảo.

Nhà khoa học
Pam Dirac thì nói: “Chân không sinh diệt”,
còn nhà khoa học Eddington cho rằng “Vũ
trụ là một tâm tưởng lớn”.

Nhà bác học
vật lý nổi tiếng Albert Einstein (1879-1955) người gốc Đức nói: “Vũ trụ phân tích đến cùng chẳng còn gì là
vật chất mà chỉ còn lại là những rung động hay những làn sóng mà thôi”.

– Đức Phật dạy:

Cấu tạo của con người và vạn
vật đều do Tam Tế Tướng của A Lại Đa Thức mà thành. (A Lại Đa Thức là thức thứ
tám của chúng ta, nó chứa đựng mọi kimh mghiệm của đời sống chúng ta, và nguồn
gốc tất cả hiện tượng tinh thần.)

– Về Khoa học: LỜI BÀN:

Ở đây, chúng ta thấy có sự
ăn khớp giữa lời Phật dạy và Khoa học, đó là:

– Phật nói Nghiệp tướng, nhà Khoa học gọi là Năng lượng,

– Phật nói Cảnh giới tướng, nhà Khoa học gọi là Vật chất,

– Phật nói Chuyển tướng, nhà Khoa học gọi là Tin tức.

IV – Thế giới: Qủa
đất

– Lời Phật dạy:

Rất nhiều lần
Phật nói đến thế giới này có 6 phương gồm Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, và Dưới; hoặc
Phật nói 10 phương gồm Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông-Bắc, Tây-Bắc, Đông-Nam,
Tây-Nam, Trên, và Dưới.

Trong bộ
Trường-A-Hàm, quyển 2, trang 503, đức Phật nói:

– Lúc mặt trời giữa trưa ở châu Diêm-Phù-Đề, thì ở châu
Phất-Vu-Đãi mặt trời lặn.

– Khi ở châu Câu-Da-Ni mặt trời mọc, thì ở châu
Uất-Đan-Việt là nửa đêm.

– Khi ở châu Câu-Da-Ni mặt trời ở giữa trưa, thì ở châu
Diêm-Phù-Đề mặt trời lặn.

– Khi ở châu Uất-Đan-Việt mặt trời mọc, thì ở châu
Phất-Vu-Đãi là nửa đêm.

– Khi ở châu Uất-Đan-Việt mặt trời giữa trưa, thì ở châu
Câu-Da-Ni mặt trời lặn.

– Khi ở châu Phất-Vu-Đãi mặt trời mọc thì ở châu
Diêm-Phù-Đề là nửa đêm.

– Khi ở châu Phất-Vu-Đãi mặt trời ở giữa trưa, thì ở
châu Uất-Đan-Việt mặt trời lặn.

– Khi ở châu Diêm-Phù-Đề mặt trời mọc, thì ở châu
Câu-Da-Ni là nửa đêm.

– Về khoa học:

Nhà khoa học Phần-Lan, Nicholas Copernicus
(1473-1543): “Năm 1543 Copernicus phổ biến công việc quan trọng nhất. Ông chỉ
ra rằng trái Đất và năm hành tinh khác theo những đường quay quanh mặt Trời, sau
chót ông viết rằng chỉ có mặt Trăng là quay quanh trái đất mà thôi; hệ thống
(hành tinh) của Copernicus bị coi như phỉ báng bất kính đối với Giáo hội, việc
này đã che bóng tối lớn trên khoa học một thời gian khá dài”. (Nicholas released
in 1543 his most important work, he printed out that Earth and five then-known
planets follow simple circular path around the Sun… Finally, he wrote that
the Moon alone orbits the Earth. The Copernican system was considered
blasphemous by the Church, which cast its long shadow over science for quite
sometime)

2)- Quyển Những Nguồn Gốc (The
Origins) của Neil de Grass Tyson và Donald Goldsmith, trang 205 viết về nhà khoa học Giordano Bruno: “. . . Nếu
mặt trời có các hành tinh phụ thuộc, giống như vậy có thể các ngôi sao với các
hành tinh của nó cũng có đời sống sinh vật đủ loại. Diễn tả quan điểm này dẫn
tới xúc phạm quyền năng của Giáo-Hoàng đưa Giordano Bruno đến cái chết tại nơi
bị xử tử (bị trói vào cột rồi đốt) năm 1600”
(… If the Sun has a
planetary family, so too might other stars, with their planetary equally
capable of give life to creature of all possible form. Expressing this view in
a manner that affronted papal authority brought Giordano Bruno to his death at
the stake in 1600).

Còn quyển
Cấu Tạo Vũ Trụ (The Structure of The Universe), trang 21 viết:

Nhà Triết học
người Ý
, Giordano Bruno đã xuất bản năm 1584
quyển sách “Vô số Vũ Trụ và Vô số Thế giới”, ủng hộ quan điểm của Copernicus về
Vũ trụ, Ông còn đi xa hơn nữa, cho rằng không những hệ thống các hành tinh quay
quanh mặt trời, mà còn có các hành tinh quay quanh mỗi ngôi sao trong các ngôi
sao nữa. Ngoài ra ông còn viết rằng các ngôi sao và các hành tinh của chúng thì
nhiều vô kể, không thể tính được… Giáo hội ghét ý tưởng của ông hơn là ý
tưởng của ông Copernicus, vì sự tin tưởng của ông, năm 1600 ông bị đốt tại nơi
xử tử ở La-Mã. (Italien Philosopher Giordana Bruno published in 1584 the book
of Infinity, The Universe and The World advocating a Copernican one step
further, arguing that not only is there phanetery system around the Sun but that
there is one around each of the stars. Moreover, he wrote that the number of
stars and planets in the uviverse is infinite…The Church was even more
hostile to Bruno idea than it was to those of Copernicus. In 1600 for his
heritical belief, Bruno was burned at the stake in Rome)

Nhà khoa học Galileo Galilei (1564-1642) nhà Thiên văn học kiêm Vật lý học. Năm
1610 ông xuất bản cuốn “Thông điệp về Sao” (The Starry Messenger), trong đó ông
viết về sự di chuyển của các hành tinh, khám phá núi trên mặt trăng, khám phá
nhiều trăm sao, các điểm (Sunpot) trong mặt trời, trạng thái của hành tinh
Venus v.v…

Năm 1632, ông
xuất bản sách, trang 23 ghi: “Luận thuyết
về thiên văn của Galileo đối thoại Trên Hai Hệ Thống Thế Giới Lớn để thay đổi
quan điểm về vũ trụ của mọi người, loại trừ ý tưởng sai lầm về trái đất là
trung tâm vũ trụ. Nhưng quyền lực Giáo hội ở Ý Đại-Lợi cho đó là một tài liệu
theo dị giáo, nên đã khinh miệt viết gửi cho ông năm 1616 một lệnh đặc biệt cấm
ông không được bàn luận đến ý tưởng của Copernicus”.
(Galileo s treatise on
astronmy dialogue on the Two Great World System was to change forever the way
humankind view the cosmos, banishing the false idea that the Earth is the
center of the universe. But the Church authority in Italy it was a heretical document,
writen in contempt of an order they had given to Galileo in 1616, specially
forbiding him to discuss Copernican notions)

“Vì không tuân lệnh sắc chỉ ấy, ông bị đưa
ra tòa án dị giáo xét tội năm 1633.
Sau cùng, Galileo bị buộc phải công nhận rằng sách của ông đã bị một số đọc giả
hiểu lầm là giống như tư tưởng của Copernicus. Ông đã xin lỗi cho những lỗi lầm
sơ xuất và đề nghị sửa lại những sai lầm trong sách của ông!… Ông bị bắt giữ
tại nhà và chẳng còn viết gì về Vũ trụ nữa, năm 1992, sau 350 năm sau khi ông
chết, ông được miễn tội bởi Giáo-hoàng
John Paul 2
“.
(For his disobedience of this edict he was brought before
the Inquision in 1633. Finally, Galileo was press to admit that his book could
be contrued by some readers as Copernican. He apologized for this oversight and
offered to amend the book… Galileo spent his last years under house arrest,
and never wrote again on cosmology. In 1992, 350 years after his death, he was
exonerated by Pope John Paul 2).

Tất cả: những sự kiện trên đây là những sự
đáng tiếc đã qua rồi, chỉ còn là những kỷ niệm; ngày nay, mọi người ca tụng các
nhà khoa học đã, đang, và sẽ mang lại sự tiến bộ cho nhân loại.

Quyển Đo
Lường Vũ Trụ (Measuring the universe), trang 20, các nhà khoa học cho biết:

– Chu vi trái đất là
24,608 miles (39,690 cây số).

– Đường kính quả đất là 7,850 miles (12,631km).

– Đường kính mặt Trời: 1,400,000 Km = 875,000 miles.

– Trái Đất cách mặt trời: 150 triệu km = 93 triệu miles.

– Mặt Trăng xa trái Đất: 384,400 km = 240,250 miles.

– Các Hành tinh đều quay quanh mặt trời …

LỜI BÀN:

Con người hiểu biết nông cạn, khi người có
quyền hành thường hay áp chế áp đảo người khác, cho rằng tất cả điều gì mình nói
ra đều đúng, nên mới có cảnh hà hiếp bắt phải tuân theo những điều phi lý, bắt
phải tin theo những điều không thể chứng minh được.

V )- Tam Thiên Đại
Thiên Thế Giới:
Một cõi Phật: Giải Ngân Hà (The
Galaxy).

Đức Phật dạy:

“Thế giới Ta-Bà nằm trong Tam Thiên đại Thiên
thế giới, các thế giới như thế xoay vần thành hoại, quốc độ mà chúng-sanh ở thì
gọi là một cõi Phật”.

Trong Kinh
Lăng-Nghiêm, đức Phật dạy: “Vạn vật, vũ
trụ được cấu tạo bởi sáu thứ đại là Đất, Nước, Gió, Lửa, Thức đại, và Không
đại”.

Kinh
Lăng-Nghiêm, Địa-Tạng, và Hoa-Nghiêm, Phật đều dạy: “Quang minh trong hư không xoay vần bởi Phong luân, Thủy luân, Kim luân
theo hình chôn ốc và khi quay chậm lại thành sơn hà đại địa và chúng-sanh”.

Quán Thế-Âm
Bồ-Tát cũng nói trong Kinh Lăng-Nghiêm, trang 389: “Trong Tam Thiên đại Thiên thế giới này có trăm ức mặt trời mặt trăng”.

Bộ
Trường-A-Hàm, quyển 2, trang 265, và quyển Đường Về Bến Giác của Hòa-Thượng
Thích-Thanh-Cát, trang 75 ghi rõ như sau:

– Một Trung Thiên thế giới = 1,000 Tiểu Thiên thế giới =
1,000 x 1,000 = 1,000,000 thế giới.

– Tam Thiên Đại
Thiên thế giới

= 3 x 1000 x Đại Thiên thế giới = 3,000 x 1,000,000,000 = 3,000,000,000,000 (Ba nghìn tỉ), các thế giới như thế, xoay vần
thành hoại, quốc độ mà chúng-sanh ở thì gọi là một cõi Phật, như vậy riêng giải
ngân hà của chúng ta đây đã có ba nghìn tỉ mặt trời.

LỜI
BÀN:

Trong Trường
A-Hàm vừa nêu trên nói rằng: “Đại Thiên thế giới cũng là Tam Thiên Đại Thiên
thế giới”, người viết cảm thấy không ổn, nếu là Đại Thiên thì nói là Đại Thiên,
đủ rồi, còn cần gì phải nói là Tam Thiên Đại Thiên nữa, thành ra chữ Tam Thiên
phải hiểu là ba nghìn mới phải lẽ, tức là nói ba nghìn Đại Thiên thế giới, do
đó người viết đã ghi Tam Thiên Đại Thiên thế giới = 3 x 1,000 x một Đại Thiên
thế giới như trên đã ghi, và đây là một cõi Phật.

– Khoa học: Khoa học nói gì về
giải ngân hà?

Thời gian ngắn
ngủi lúc đầu, không những chỉ có nguyên tử, mà còn có những hạt Vi Phân Tiềm
Nguyên tử đụng độ nhau dữ dội như Âm điện tử, Dương điện tử, Quang tử trong nồi
súp vũ trụ đặc quánh hơn nước đến bốn tỉ lần.

Khi những
phân tử này văng khỏi những phân tử khác với một tốc độ nhanh kinh khủng, rià
ngoài của vũ trụ chạy xa khỏi rià đối diện nhanh hơn tốc độ ánh sáng (vì hai
bên đều bắn ra xa cùng lúc)”.

Quyển Những
Nguồn Gốc (The Origins), trang 25, 33 cho biết: “Sự thành lập Vũ trụ cách nay 14 tỷ năm. Lúc đầu tất cả không gian, vật
thể, năng lượng của cái gọi là Vũ trụ chỉ bằng đầu mũi kim. Khi đó ở nhiệt độ
nóng là 10 lũy thừa 50 (10 lũy thừa 9 là một tỷ độ rồi), và chỉ trong thời gian
10 lũy thừa -45 của một giây đồng hồ (10 lũy thừa -3= 1/1000) vật thể, năng
lượng, không gian, thời gian tác động và tương tác với nhau; những đặc tính tác
động qua lại này trong biến cố Vũ trụ của chúng ta xẩy ra tất cả những hiện
tượng phản ứng hóa học và sinh vật học. Từ đấy tất cả những nguyên tắc căn bản
hiểu biết của chúng ta về trái đất khởi sự”.
(Some 14 billion years ago, at
the beginning of time, all space, all the matter and all the energy of the known
universe fit with in pinhead. When at 50 degree power of 10 in -45 second power
of 10, matter, energy, space, time behave and interact with one another. The
interplay of these characters in our cosmic drama underlies all biological and
chemical phenomena. Hence everything fundamental an familiar to us earthlings
begins with).

Quyển Cấu Tạo
của Vũ trụ, trang 120-121, tính toán và tóm tắt thời gian cấu tạo Vũ trụ bằng
thuyết ” Bùng Nổ” (Big Bang) như sau:

1)- Bùng Nổ: Vũ trụ bắt đầu từ 9 đến 20 tỉ năm.

3)- 1 phút sau Bùng Nổ: Nguyên tử xuất hiện.

4)- 1 năm sau: Âm điện tử hợp với nguyên tử tạo thành
nguyên tố.

5)- 50 triệu năm sau : Các ngôi sao thành hình.

6)- 4-5 tỉ năm cách nay: Các hành tinh thành hình.

7)- 1 tỉ năm cách nay: các loài giun đất xuất hiện. 8)- 248 triệu năm cách nay: Khủng-Long xuất
hiện.

9)- 35 triệu năm cách nay: Loài người xuất hiện.

Aristotle (384-322 trước D lịch), (Đạo
Phật và Khoa Học, trang 214) nhà khoa học kiêm triết học nổi tiếng người Hy-Lạp
(sau Phật 240 năm) nói: “Tất cả vạn vật đều được cấu tạo bởi Đất, Nước, Gió,
Lửa; những chất này hoạt động nhờ hai lực:

– Hấp lực khiến đất và nước chìm xuống.

– Tính nhẹ phiêu bồng khiến gió lửa lên cao>.

Trong quyển
Đạo của Khoa Vật Lý (The Tao of Phisics) của Fritjiof Capra, trang181 viết: “Những đám mây khinh khí xoay tròn cô đọng
thành những ngôi sao, trong khi những đám mây khác phóng ra những vật thể quay
tròn hình chôn ốc và cô đọng lại thành những hành tinh chạy chung quanh các
ngôi sao”.

Trong quyển
Đo Lường Vũ Trụ (Measuring the Universe), trang 3 ghi: “Giải ngân-hà mà mặt trời (chúng ta) có ở trong đó bao phủ một vùng
rộng 3 triệu năm ánh sáng”
(Tốc độ ánh sáng trong 1 giây đồng hồ = 300,000
km hay cây số).

Quyển Cấu Tạo
Vũ Trụ, trang 66 ghi: “Chúng ta sống ở
vòng ngoài của một cánh xoắn chôn ốc của giải Ngân hà”
(We live in outer
reach of one of spiral arms of the Milky Way)

Thiên văn
gia Frank Drake cầm đầu chương trình tìm kiếm nền văn minh ngoài địa cầu
(Đạo-Phật và Khoa Học, trang 195, 196), phỏng chừng có khoảng 10,000 nền văn
minh ở giải ngân hà của chúng ta; Ông ước tính giải ngân hà của chúng ta có
khoảng 400 tỉ ngôi sao, trong đó có khoảng 40 tỉ sao giống mặt trời của chúng
ta, nhưng chỉ có khoảng 10 tỉ ngôi sao có hành tinh giống như trái đất chạy
chung quanh. Ông lại nói có khoảng 20 tỉ ngôi sao chạy chung quanh hành tinh.
(?)

Trong Bộ Sách
Giải Thích Vũ Trụ (The Ilustrated Encyclopedia of The Universe) của Ian Ridpath
xuất bản năm 2001 ghi: “Tốc độ của hệ
thống mặt trời chạy 230 cây số một giây chung quanh trung tâm giải ngân hà và
giải ngân hà của chúng ta chạy 600 cây số một giây trong không gian”.

Quyển Những
Nguồn Gốc, trang 111, Thiên văn gia dùng
viễn vọng kính Herschel Scope quan sát thấy vô số sao trong giải ngân hà không
thể đếm tính được. Trang 121 ghi: “Thái
dương hệ của chúng ta chạy 240 triệu năm một vòng trong qũy đạo của giải ngân
hà. Ngày nay đã quay được 20 vòng kể từ khi thành lập, và có lẽ còn 20 vòng nữa
thì tới thời kỳ sụp đổ”.

Quyển Cấu Tạo
của Vũ trụ, trang 84, Thiên văn gia Allan Sandage của đài thiên văn Carnagie
Observatories ở thị xã Pasadera, tiểu bang California nói: “Vũ trụ của chúng ta (Milky Way) có cách nay vào khoảng từ 9 tới 12 tỷ
năm”.

– Đức Phật dạy:

Trong Kinh Lăng-Nghiêm:

“Thế giới nhiều
như bụi, đều nương sinh trong hư không, những phong luân khi xoay tròn tạo nên
sơn hà đại địa”.

Phật cũng
thường nói: “Cõi Phật nhiều hơn cát sông
Hằng, trong 10 phương thế giới nhiều như bụi không sao tính đếm được”.

Trong quyển
Nhị Khóa Hiệp Giải, trang 215, có vẽ và phân biệt:

1- Hoa-Tạng Thế
Giới
: 20 cõi
Phật xếp chồng lên nhau trong một phương là một Hoa-Tạng hay Thế Giới Chủng
(chủng: chứa nhiều thế giới trong một liên hoa), tức gồm 20 giải ngân hà chồng
lên nhau.

2- Nhụy
Hương-Tràng
: 10
Hoa-Tạng quây chung quanh một Hoa-Tạng được gọi là Nhụy-Hương-Tràng, tức là 220
giải ngân hà.

3- Đại Liên-Hoa: Gồm Nhụy Hương-Tràng ở giữa
(đây là nhụy hoa và cuống hoa) biển Đại Hương-Thủy, trong biển Đại Hương Thủy
có những Biệt Hương Thủy Hải (Hải: số nhiều vô biên không thể xét lường) nhiều
bằng số vi trần trong số 10 lần bất khả thuyết Phật sát (Phật quốc), mỗi Biệt
Hương Thủy Hải đều có Hoa-Tạng.

4- Hoa-Tạng
Huyền-Môn,
Tỳ-Lô Tánh Hải: Ngoài Đại Liên Hoa (Hoa Sen lớn) vô cùng
tận ra, còn có những Đại Liên Hoa khác nữa vì hư không vô cùng tận. (Huyền-Môn: Chỉ có Chư
Phật xét hiểu tường tận, Tỳ-Lô Tánh-Hải: Tâm vô biên trong cái hư không vô
biên).

Quyển Nhị Khóa
Hiệp Giải, trang 191 ghi: Kinh Hoa-Nghiêm ghi lời Phật giảng về thế giới Liên
Hoa Tạng có cái biển lớn nước thơm tên là “Phổ
Quang Ma-Ni Vương Trang Nghiêm Hương Hải Thủy”
, giữa biển này mọc lên một
Hoa sen rất lớn tên là “Chủng Quang Minh
Nhụy Hương Tràng”
. Trong hoa Nhị Hương Tràng có một tổng hải tên là “Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải”,
giữa biển đây có những hoa bằng số mười lần “Bất khả thuyết Phật sát vi trần”,
trong mỗi một hoa có một “Hương Thủy Hải”, Trong mỗi một biển ấy lại có một hoa
sen lớn, trên mỗi một hoa sen lớn có hai mươi lớp thế giới theo thứ lớp chất
chồng nhau, lớp dưới bẹp (nhỏ), lên trên nới lần rộng ra.

Cũng quyển
Nhị Khóa Hiệp Giải, trang 219 ghi:

“Chỉ nói Hoa-Tạng
thì đâu chẳng phải là Tỳ-Lô Tánh-Hải, vì tánh Hải vô biên, nó hàm ở trong hư
không vô biên, bởi hư không vô cùng tận, thì ngoài hoa sen lớn ra, hẳn còn có
vô cùng tận những Đại Liên hoa nữa để
làm trang nghiêm, đủ rõ rồi”.

Trong Kinh
Hoa-Nghiêm của Hòa-Thượng Thích-Duy-Lực dịch, trang 110 ghi:

Trong mỗi hạt bụi hiện pháp
giới.

Trong Kinh
Hoa-Nghiêm của Hòa-Thượng Thích-Trí-Tịnh dịch, trang 401, Bồ-Tát Phổ-Hiền đã
diễn tả thế giới có hình dạng khác nhau, Ngài nói: “Tất cả thế giới chủng hình dạng đều khác nhau, hoặc hình núi Tu-Di,
hình sông, hình nước xoáy, hình chôn ốc; hoặc hình trục xe, hình bàn thờ, hình
rừng cây, hình nhà lầu; hoặc hình lập phương, hình hoa sen, hình thân
chúng-sanh, hình đám mây; hoặc hình Phật ngồi, hình tròn sáng, hình tam giác
(hình nón), hình bán nguyệt, hình tròn, v.v..”.

Kinh
Hoa-Nghiêm, trang 377, Ngài Phổ-Hiền Bồ-Tát nói: “Đại Liên Hoa lúc nở ra, lúc héo đi”.

– Về Khoa Học:

Thiên văn
gia Edwin Huble sau khi dùng viễn vọng kính của ông quan sát (Đạo Phật và Khoa
Học, trang 195), ông nói: “Có hàng tỉ
giải ngân hà và hàng tỉ tỉ tinh tú ngoài giải ngân hà của chúng ta”.

Trong quyển
Đo Lường Vũ Trụ (Measure The Universe), trang 3, nhà khoa học Kitty Ferguson
nói: “Vũ trụ mà con người có thể nhìn
được bằng viễn vọng kính rộng từ 8 tới 15 tỉ năm ánh sáng”.

Quyển Cấu Tạo
Vũ trụ, trang 66 viết: “Trước đây các
Thiên văn gia nói có khoảng 10 tỉ giải Ngân hà, nhưng nay (1997) có ít nhất là
50 tỉ giải Ngân hà!”

Quyển Đạo
Phật và Khoa Học, trang 146 ghi:

Tiến-sĩ E
William, giám đốc viễn vọng kính ở Baltimore tuyên bố: “Chỉ nhìn một vùng nhỏ hẹp trong bầu trời khoảng 1/25 của một độ, hay
chiếm bằng một hạt cát trên cánh tay, thế mà các Thiên văn gia báo cáo đã phát
hiện ở nơi đó có từ 1500 tới 2000 Thiên hà”.

Các khoa
học gia nhìn thấy các giải ngân hà nở ra, vì các tinh tú càng ngày càng xa nhau
ra với tốc độ rất lớn; do đó, họ đã đưa ra thuyết Bùng Nổ (Big Bang). Vũ trụ nổ
tung cực lớn khiến các tinh tú bắn ra nên ngày càng xa nhau hơn.

Quyển Cấu
Tạo của Vũ Trụ, trang 68 ghi: “Những giải Ngân hà khác nhau hình dáng, to nhỏ
kết lại với nhau bởi trọng trường gồm nhiều tá (Dozen) các giải Ngân hà thành
Chùm Ngân hà (Galatic Cluster), chùm này di chuyển trong không gian không rời
nhau”. Trang 118, nói: “Chúng ta giống
như con kiến trên qủa bong bóng đang bơm, thấy các chấm trên bong bóng đang xa
nhau ra, mà chẳng thấy ngoài và trong bong bóng có gì, cũng chẳng thấy bià Vũ
trụ; rồi nếu nói có sự bành trướng hay co lại thì phải có trung tâm chứ? Nổ
Bùng (Big Bang) làm tung bay đi các ngả, nhưng chỗ xẩy ra Nổ Bùng ở đâu?
Eddington phân tích con kiến trên bong bóng trả lời câu hỏi đó”.

Quyển Đo
Lường Vũ Trụ, trang 198

Bill Summer
(Đạo Phật và Khoa Học, trang 247) cho rằng các nhà vũ trụ học đều sai hết, vì
vũ trụ sẽ co rút lớn trong 4 tỉ năm nữa, điều này đi ngược với Thiên văn vũ trụ
học đã đưa ra từ 70 năm nay.

Mới đây,
hai nhà Thiên văn học Magaret Geller và John Huchra thuộc trung tâm Thiên văn
vật lý Harvard (Harvard Smithsonian Center for Astrophisics) (Đạo Phật và Khoa
Học, trang 196) đã khám phá ra một dây ngân hà lớn nhất chưa từng thấy trước
đây, giải ngân hà này được gọi là “Bức Trường
thành vĩ đại của các giải ngân hà”
(The great wall of galaxies). Gồm rất
nhiều giải ngân hà đan thành một bức tường dài 500 triệu năm ánh sáng.

Trong quyển
Đo Lường Vũ Trụ, trang 250 còn ghi: “Bức
Trường thành có bề dầy 10 triệu năm ánh sáng, và chiều dài tới một tỉ năm ánh
sáng”.

Rồi các Nhà
Thiên văn lại loan báo là đã khám phá ra một nhóm các sao lớn chưa từng thấy
(Đạo Phật và Khoa Học, trang 198), họ gọi là “Địa lục Thiên hà” (Continents of Galaxies). Nhóm sao này cách trái
đất khoảng 150 triệu năm ánh sáng, nhóm sao này có sức hút vô cùng lớn khiến nó
lôi kéo hàng triệu các giải ngân hà khác; việc này khiến các nhà khoa học cho
rằng vũ trụ còn rất nhiều điều chưa biết và vũ trụ qúa phức tạp.

Trưởng toán
Alexender nghiên cứu không gian, thuộc viện Carnegie ở Hoa-Thịnh-Đốn
(Washington) Hoa-Kỳ đã khám phá ra Địa lục Thiên hà này, tuyên bố: “Nó lớn qúa và che lấp bầu trời làm chẳng ai
để ý đến nó”,
còn Thiên văn gia Dresser tin rằng có nhiều Địa lục thiên hà
như thế nữa.

Các nhà
Thiên văn còn tìm ra một nơi mà họ bảo là “Bảo
sinh viện tinh tú”
(Galactic Nursery) (Đạo Phật và Khoa Học, trang 203),
Thiên văn gia Jeffer Haster thuộc đại học Arizona nói: “Những ngôi sao mới đang thành hình ngay trước mắt (qua viễn vọng kính
Hubble) chúng ta”.

Trong quyển
Đo Lường Vũ trụ, trang 258, còn ghi thêm: “Đây
là đĩa khí và bụi dầy chừng 500 năm ánh sáng. Nó là chỗ sinh ra các ngôi sao”

(This is the disk of gas and dust, only 500 light of years thick. It is the
birthplace of new stars).

Trong quyển
Đo Lường Vũ trụ, trang 248, Thiên văn gia Freidman nói: “Vũ trụ, nhìn mọi phía đều có vô số các giải ngân hà giống nhau”.

Cũng trong
quyển Đo Lường Vũ trụ, trang 300, nhà khoa học người Đức Heinrich W Olber (1758-1840),
lại phát biểu như sau: “Nếu không gian
không có tận cùng của nó tức là vô cùng tận, và nó chứa vô số kể ngôi sao, thì
ban đêm bầu trời sẽ sáng như mặt trời vậy”
. Ông ta chưa tin là không gian
vô biên (đây là thiểu số).

Trong quyển
Những Nguồn Gốc, trang 125, 127, Trung Tâm Viễn Vọng Kính Hubble chụp vô cùng
sâu vào không gian (Hubble Space Scope Ultra Deep Field) năm 2004, có chụp một
số hình, một hình chụp giải ngân hà trông giống hệt cái trứng chiên lòng đỏ còn
nguyên mà chiên hai mặt, khi ta nhìn theo chiều nghiêng trông giống như đĩa
bay, nhưng mỏng, chỉ có chỗ giữa lồi về hai phiá như trứng chiên lòng đỏ không
bể vậy. Một tấm hình khác, trong đó mỗi chấm sáng là một giải ngân hà, có vô số
kể chấm sáng. Các bức hình chụp từ trái đất cách từ 3 tỉ đến 10 tỉ năm ánh sáng
xa.

LỜI BÀN:

Những điều trình bày trên của các nhà
Khoa học chứng tỏ những lời Đức Phật nói từ hơn 2500 năm nay là chính xác, các
nhà Khoa học đã chứng minh bằng mắt thấy trong viễn vọng kính tân tiến nhất của
ngày nay rằng Vũ trụ vô biên vì không thấy biên giới của Vũ trụ, thế giới vô lượng
vì có quá nhiều thế giới đếm không xuể được.

1)- Thời gian không gian dung
thông:

– Đức Phật dạy:

Kinh Hoa-Nghiêm, Phật dạy:

“Thời gian dung
thông không gian, không gian dung thông thời gian”.
– Về Khoa Học:

Quyển Đạo
Phật và Khoa Học, trang 62 ghi:

– Khoa học gia Matt Visser thuộc đại học Washington đã
nói về thuyết tương đối của Bác học Albert Einstein: “Einstein đã biến đổi vật lý học bằng cách chứng tỏ rằng không gian và
thời gian thực ra chỉ là hai vẻ khác nhau của cùng một môi trường, có thể giãn
ra, uốn cong, và vặn vẹo hình thái bởi trọng trường”.

Nhà Bác học Albert
Einstein

(1879-1955), Quyển Cấu Tạo Vũ trụ, trang 50 viết: “Thuyết của Einstein khẳng định rằng khối lượng làm cong không gian
-thời gian”
(Einstein s theory states that mass curves space-time). Bộ sách
Giải Thích về Vũ Trụ ghi, một điểm trong thuyết tương đối (Theory of
Relativity) của ông như sau: “Khi tốc độ
bằng ánh sáng, thời gian ngừng, khoảng cách không còn, và trọng lượng của vật
bay phải lên tới vô cực
(vô
cùng lớn) (At the speed of light, time stops, you have zero length, and your
mass is infinite).

Nhà Bác học
Einstein kế luận: “Không thể nào đạt được
tới tốc độ nhanh như ánh sáng

(Einstein concluded that you cannot reach the speed of light).

Lý thuyết
này chỉ áp dụng cho người thế tục, chứ không áp dụng cho bậc Thánh của Phật
giáo, vì sắc thân của các Ngài là quang minh, sắc tức là không.

2)- Thời gian mau chậm khác
nhau:
– Phật dạy:

Nhị Khóa Hiệp
Giải, trang 205, 206 ghi:

Tuổi thọ và chiều cao của chư Thiên càng lên

cao càng sống lâu và càng cao hơn, như sau:

Tuổi Chiều cao Cách xa

Trời Phi Phi Tưởng 80,000 Vô
hình 22,
549 tỉ

Trời Vô sở hữu sứ 60,000 vô
hình 11,274 tỉ

Trời Vô biên thức 40,000 vô
hình 5,637 tỉ

Trời Không vô biên 20,000 vô
hình 2,819
tỉ

Cõi sắc giới: (Kiếp) (Do tuần) (Do tuần)

Trời Sắc cứu cánh 16,000 16,000 1,409 tỉ

Trời Thiện hiện 8,000 8,000 705 tỉ

Trời Thiện kiến 4,000 4,000 352 tỉ

Trời Vô nhiệt 2,000 2,000 176 tỉ

Trời Vô phiền 1,000 1,000 88
tỉ

Trời Vô tưởng 500 500 44
tỉ

Trời Quảng qủa 500 500 22
tỉ

Trời Phúc sinh 250 250 11 tỉ

Trời Vô vân 125 125 5.5 tỉ

Trời Biến Tịnh 64 64 2.752
tỉ

Trời Vô lượng tịnh 32 32 1.376 tỉ

Trời Thiểu tịnh 16 16 688
triệu

Trời Quang âm 8 8 344
triệu

Trời Vô lượng quang 4 4 172 triệu

Trời Thiểu quang 2 2 86 triệu

Trời Đại Phạm 1.5 1.5 43
triệu

Trời Phạm phụ 1 1 21.5
triệu

Trời Phạm chúng 0.5 0.5 10,8 triệu

Cõi dục giới: Tuổi Chiều
cao Cách xa

(Tuổi trời) (Dặm) (Do
tuần
)

Ma La
Thiên 32,000 3 dặm 5.4 triệu

Tha Hóa
lạc 16,000 2.5 2.7 triệu

Hóa lạc
Thiên 8,000
2 1.3 triệu

Đâu
Suất Thiên 4,000 1.5 677
nghìn

Dạ Ma
Thiên 2,000 1 336 nghìn

Đạo-Lợi
Thiên 1,000 0.5 168 nghìn

Quyển Nhị Khóa
Hiệp Giải, trang 206, ghi tuổi thọ cõi Trời Sắc-giới và Vô Sắc giới tính bằng
Đại Kiếp. Trong khi bộ Trường A-Hàm, quyển 2, trang 400 lại tính bằng Kiếp, có
một sự khác biệt qúa xa, người viết sau khi cõi kỹ, thấy để Kiếp thì đúng hơn, vì có sự liên tục tuổi tăng từ cõi
Dục-giới tiếp lên cõi Sắc-giới chứ không tăng nhảy vọt , nên sách này đã ghi
theo Đại Tạng Kinh.

Xem bảng
liệt kê trên đây, chúng ta thấy các tầng trời càng cao xa, Chư Thiên càng cao
lớn hơn, và càng sống lâu hơn, theo một tỷ lệ là khoảng cách xa gấp đôi thì
chiều cao thân hình cũng gấp đôi, và sống lâu cũng gấp đôi. Một điểm nữa: chúng
ta cần biết là càng xa mặt đất lên cao, không khí càng loãng dần, hấp lực cũng
giảm đi cho tới chỗ qúa xa thì không còn không khí, không còn hấp lực nữa.

Quyển Đạo
Phật và Khoa Học, trang 48, kể truyện một Tiên nữ lạc xuống Trần gặp một chàng
trai, rồi hai người thương nhau lấy nhau làm vợ chồng. Hai người sống chung với
nhau mười mấy năm hạnh phúc, sinh được hai con. Sau Tiên nữ nhớ cảnh Tiên, lén
bay về Trời, Vua Đế-Thích thấy hỏi: “Nàng
đi đâu cả buổi khiến ta không thấy?”.

Kinh
Hoa-Nghiêm nói rằng: “Một kiếp ở cõi
Ta-Bà này chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi Cực-Lạc”.

– Về Khoa học:

Bộ sách
Giải Thích về Vũ Trụ viết nhà Bác học Albert
Einstein
nói về sự thay đổi đối với sức hấp lực (Gravitation shift) như sau
:

2)- Đường thẳng trong không gian là Không-Thời (không
gian-thời gian) bốn chiều (Straight line in space is 4-dimensional Space-Time).

3)- Hấp lực được hình dung là một sự uốn cong của
Không-Thời (Gravity should be a curvature of Space-Time).

4)- Các hành tinh giữ đường quay quanh mặt trời không
phải do hấp lực, mà bởi không gian cong
giữ các hành tinh chuyển động trong đường quay (The planets keep the orbit to
the sun not by gravity but by curvature of space constrains them to move in
closed paths).

Quyển Đạo
Phật và Khoa Học, trang 54 viết:

Trang 55
viết: Người ta thí nghiệm làm cho một hạt nguyên tử dao động ở tầng thấp nhất,
người ta thấy rằng hạt nguyên tử ở tầng thấp nhất giao động chậm hơn là hạt
nguyên tử được đặt trên tầng thứ tư của tòa nhà bốn tầng; như vậy khoa học đã
chứng minh thời gian nơi không trung trôi nhanh hơn thời gian ở dưới đất, tóm
lại một ngày ở cõi trời Đạo-Lợi bằng một năm của chúng ta đã được khoa hoc
chứng minh.

LỜI
BÀN:

Ở đây, chúng ta
thấy lời Phật dạy với sự tìm hiểu, chứng minh, của khoa học, cùng một nhịp đàn
êm tai. Các nhà khoa học đáng được ca ngợi, vì nhờ họ mà các lời Phật dạy được
giải thích, làm sáng tỏ hơn lên, nhất là đối với những người ít tìm hiểu. Việc
làm của các nhà khoa học rất cần thiết cho đời sống con người, cần thiết cho
đời sống tiến bộ, văn minh; nhưng cũng còn vô số điều Phật dạy mà khoa học chưa
giải thích được.

Sau đây là những
phát biểu của một số nhân vật nổi tiếng trên thế giới:

1) Albert Einstein

Trang 115 ghi
tiếp: Albert Einstein viết tiếp: “Nếu có một tôn-giáo nào đáp ứng những nhu cầu
của khoa học hiện đại, thì tôn-giáo đó phải là Phật-giáo”. (If there is any
religion cope with modern scientific needs it would be Buddhism).

Trong quyển
“Nền Tảng của Đạo Phật” (Fundamentals of Buddhism), của Tiến-sĩ Peter D Santina
ghi: “Nhà Bác-học Albert Einstein trong bài tự thuật rằng ông là người không
tôn-giáo, nhưng nếu ông là người có tôn-giáo thì ông phải là một Phật tử”.
(Albert Einstein remarked that he was not a religious man, but if he were one, he
would be a Buddhist).

2)- Bertrand
Russell
(trang
80) nói: “Trong những tôn-giáo vĩ đại của
lịch sử, tôi thích Phật-giáo, nhất là những dạng thức thuở ban đầu, vì tôn-giáo
này có ít yếu tố ngược đãi nhất”
(Of the great religion of history, I
prefer Buddhism, especially in its nearest forms, because it has the smallest
element of persecution).

3)- H.G. Well (trang 98) nói: “Phật giáo đã mang lại sự tiến bộ cho thế giới
văn minh và văn hóa chính đáng nhiều hơn là bất cứ ảnh hưởng nào khác trong
lịch sử của nhân loại”
. (Buddhism has done more for the advance of world
civilization and true culture than any other influence in the chronicles of
mankind).

4)- Ngài Edwin Arnol (trang 115) nói: “Tôi đã thường nói, và tôi sẽ nói mãi nói
mãi rằng giữa Phật-giáo và khoa học hiện
đại có quan hệ tinh thần khắn khít”
(Sir Edwin Arnol said: I often said,
and I shall say again and again, that between Buddhism and modern science there
exists a close intellectual bond).

5)- Egerton C.
Baptist
(trang
117) nói: “Khoa học không thể đưa ra một
sự đoan chắc. Nhưng Phật-giáo có thể đáp ứng sự thách đố của Nguyên tử, nên
kiến thức siêu phàm của Phật-giáo bắt đầu ở chỗ kết thúc của khoa học”
(Science
can give no assurance herein. But Budhism can meet the Atomic Challenge,
because the supramundente knowledge of Budhism begins where science leaves
off).

Và còn rất nhiều sự phát biểu khác mà
người viết không thể viết dài them được nữa, rất tiếc!.,.

Toàn Không


Bạn đang xem bài viết Lời Phật Dạy Và Khoa Học tại chuyên mục [ Danh ngôn ] trên website Vhnshop.com. Hãy chia sẻ nếu bài viết này hữu ích cho mọi người.